<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Sức Khỏe - Sức Khỏe Gia Đình - Tư Vấn Sức Khỏe - Hỏi Đáp Sức Khỏe &#187; Tai &#8211; Mũi &#8211; Họng</title>
	<atom:link href="https://suckhoe.nhadatso.com/category/cac-benh-thuong-gap/tai-mui-hong/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://suckhoe.nhadatso.com</link>
	<description>suckhoe.nhadatso.com</description>
	<lastBuildDate>Tue, 26 May 2015 03:52:04 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	
	<item>
		<title>Tìm hiểu về bệnh viêm họng mãn tính và các triệu chứng</title>
		<link>https://suckhoe.nhadatso.com/tim-hieu-ve-benh-viem-hong-man-tinh-va-cac-trieu-chung.html</link>
		<comments>https://suckhoe.nhadatso.com/tim-hieu-ve-benh-viem-hong-man-tinh-va-cac-trieu-chung.html#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 26 May 2015 02:31:28 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Tai - Mũi - Họng]]></category>
		<category><![CDATA[bệnh hay gặp]]></category>
		<category><![CDATA[bệnh thường gặp]]></category>
		<category><![CDATA[các bệnh hay gặp]]></category>
		<category><![CDATA[các bệnh thường gặp]]></category>
		<category><![CDATA[chữa viêm họng]]></category>
		<category><![CDATA[dấu hiệu viêm họng mạn tính]]></category>
		<category><![CDATA[điều trị viêm họng]]></category>
		<category><![CDATA[ho khan]]></category>
		<category><![CDATA[một số bệnh hay gặp]]></category>
		<category><![CDATA[một số bệnh thường gặp]]></category>
		<category><![CDATA[những bệnh hay gặp]]></category>
		<category><![CDATA[những bệnh thường gặp]]></category>
		<category><![CDATA[triệu chứng viêm họng mạn tính]]></category>
		<category><![CDATA[viêm họng hạt]]></category>
		<category><![CDATA[viêm họng mãn tính]]></category>
		<category><![CDATA[viêm mạn tính niêm mạc họng]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suckhoe.nhadatso.com/?p=413</guid>
		<description><![CDATA[Viêm họng mạn tính là viêm mạn tính niêm mạc họng rất hay gặp. Người bệnh thường cảm thấy khô họng, nóng rát trong họng hoặc có cảm giác ngứa họng, vướng họng nhất là khi ngủ dậy, phải cố khạc đờm, đằng hắng để làm long đờm, đờm dẻo và đặc thường tăng lên]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Viêm họng mạn tính là viêm mạn tính niêm mạc họng rất hay gặp. Người bệnh thường cảm thấy khô họng, nóng rát trong họng hoặc có cảm giác ngứa họng, vướng họng nhất là khi ngủ dậy, phải cố khạc đờm, đằng hắng để làm long đờm, đờm dẻo và đặc thường tăng lên khi nuốt, ho nhiều vào ban đêm hay khi lạnh. Khi uống rượu, hút thuốc lá nhiều, nói nhiều, triệu chứng trên càng trở nên rõ rệt. Thường các viêm họng mạn tính sẽ lần lượt qua các giai đoạn xuất tiết, quá phát và teo nếu để kéo dài không điều trị.</strong></p>
<p><img class="aligncenter size-full " title="Những triệu chứng bệnh viêm họng mãn tính" src="/images/post/2015/05/26/02//1193.jpg" alt="1193 Những triệu chứng bệnh viêm họng mãn tính" width="600" height="400" /></p>
<p><strong>Nguyên nhân</strong></p>
<p>Bệnh viêm họng mạn tính do rất nhiều nguyên nhân gây ra:</p>
<p>*Cơ địa: Bệnh thường xảy ra ở những người có niêm mạc họng yếu ớt về chức năng.</p>
<p>*Môi trường: Là những nguyên nhân ngoại lai rất quan trọng, như:</p>
<p>– Bụi, khói, hóa chất, hơi nóng (ô nhiễm không khí ở các thành phố công nghiệp, trong các nhà máy, lò sát sinh, bếp ăn…).</p>
<p>– Những khác biệt liên tục và lớn về nhiệt độ, ẩm độ trong không khí (gây ra bởi máy điều hòa nhiệt độ…).</p>
<p>*Thói quen: Hút thuốc lá, uống rượu quá độ, thường làm việc trong những môi trường kín, nhiều khói thuốc…</p>
<p>*Những bệnh gây nghẹt mũi như dị ứng mũi xoang, viêm xoang, lạm dụng thuốc nhỏ mũi, những bệnh tích dạng khối u chiếm chỗ trong vòm mũi họng, trong mũi như sùi vòm họng, sự tồn tại của túi Thornwald, đuôi cuốn mũi dưới quá phát, polyp mũi buộc bệnh nhân phải thở bằng miệng đều dễ dàng gây viêm họng mạn. Viêm họng mạn cũng là hậu quả của bệnh viêm xoang mủ mạn tính, do mủ từ trong xoang liên tục chảy xuống họng từ cửa mũi sau.</p>
<p>*Các răng sâu là những ổ nhiễm trùng thường trực cũng là một nguyên nhân quan trọng.</p>
<p>*Những nguyên nhân khác bao gồm rối loạn nội tiết (tình trạng mãn kinh, nhược giáp), thiếu vitamin A, những rối loạn toàn thân (suy thận, tim, tiểu đường, suy hô hấp, viêm phế quản mạn tính), cơ thể suy nhược do những bệnh mạn tính khác.</p>
<p><strong>Triệu chứng</strong></p>
<p>Viêm họng mạn tính biểu hiện dưới ba dạng chính: Viêm họng xuất tiết, viêm họng mạn tính quá phát hay viêm họng hạt và viêm họng mạn tính thể teo. Gọi là viêm họng mạn tính để phân biệt với các dạng viêm họng mạn tính khu trú trên vài phần của họng như viêm amiđan, VA. Trẻ em, thanh niên, người trung niên thường bị dạng xuất tiết hay dạng hạt, còn người cao tuổi thường bị dạng teo.</p>
<p>Những triệu chứng mà bệnh nhân than phiền đều tương tự nhau trong các thể bệnh. Bệnh nhân thường có cảm giác vướng, nghẹn như có khối lạ trong họng, phải khạc nhổ liên tục; Ho từng cơn, đàm nhớt đặc quánh; Họng bị khô, đau họng hay nuốt đau. Các triệu chứng này rất rõ rệt vào buổi sáng, lúc mới thức dậy. Bệnh diễn biến từng đợt, không kèm theo những rối loạn toàn thân hay sốt nếu không bị bội nhiễm bởi vi trùng hay siêu vi. Trong bệnh viêm họng hạt, cảm giác vướng họng là nổi bật, có khi bệnh nhân đi khám bệnh vì tưởng rằng mình bị hóc xương. Cảm giác này gây buồn nôn, làm bệnh nhân dễ dàng nôn mửa với những kích thích nhẹ như chải răng vào buổi sáng, thậm chí có khi chỉ yêu cầu há miệng to cũng khiến bệnh nhân bị ói. Với thể teo, cảm giác khô trong họng làm bệnh nhân khó chịu nhất, phải khạc nhổ liên tục với đàm nhớt đặc quánh, thậm chí có cả những vảy mủ khô. Ðộng tác khạc nhổ làm tổn thương niêm mạc họng – vốn đã mong manh – gây chảy máu. Chính những vệt máu trong đàm này đã làm nhiều bệnh nhân sợ bị lao phổi hay ung thư.</p>
<p>Dù bệnh không nguy hiểm nhưng việc khịt mũi, khạc nhổ, ho khan liên tục sẽ làm bệnh nhân bựïc mình, cáu gắt, lo lắng, giảm năng suất làm việc, nhất là khi bị mất ngủ vì cảm giác ngộp thở về đêm.</p>
<p>Khi khám họng, trong thể viêm họng mạn tính xuất tiết, niêm mạc thành sau họng đỏ, nhiều tiết nhầy, lổn nhổn những hạt nhỏ, đó là những nang lympho ở thành họng bắt đầu to ra. Trong thểâ viêm họng hạt, niêm mạc thành sau họng dày lên và sần sùi, trên đó có những hạt to nổi lên riêng rẽ hay từng khúm. Các hạt này có màu từ đỏ tươi đến đỏ xám. Ðặc biệt, xung quanh hạt có những tĩnh mạch tân sinh giãn rộng. Các hạt này thường được bao phủ bởi một lớp tiết nhầy đặc quánh, trong suốt hay đục lờ. Trong những đợt viêm cấp, có thể có những đốm mủ màu trắng hay vàng bẩn bám trên các hạt. Nặng hơn, các nang lympho quá phát thành những dải sùi, đỏ, chạy dọc theo hai trụ sau của amiđan, còn gọi là các trụ giả. Các trụ giả này là nguyên nhân chính gây ngứa và vướng trong họng, kích thích bệnh nhân khạc nhổ và ho khan.</p>
<p>Còn ở thể teo, niêm mạc họng và các nang lympho bị xơ hóa, hạt và nẹp biến mất. Niêm mạc họng thoái hóa mỏng, màu trắng bệâch. Tiết dịch ít và quánh. Trong thể nặng, niêm mạc họng như bị bao phủ bởi một lớp vảy khô.</p>
<p><strong>Điều trị</strong></p>
<p>Viêm họng hạt được coi là một bệnh khó điều trị dứt điểm. Các phương pháp điều trị tích cực như đốt lạnh (dùng nitơ lỏng), khí dung kháng sinh tại chỗ… không cho kết quả lâu dài. Để giảm bớt triệu chứng và đề phòng những đợt cấp hoặc biến chứng, nên áp dụng một phương pháp đơn giản mà hiệu quả: súc họng bằng nước muối loãng.</p>
<p>Nước muối để ngậm cần có độ mặn tương đương với nước canh và ấm hơn thân nhiệt vài độ (nhất là về mùa lạnh) để gây giãn mạch, tăng tuần hoàn tại chỗ, khiến bạch cầu đến đây nhiều hơn. Nên pha sẵn nước muối mặn đựng vào chai, khi súc họng thì pha thêm nước nóng để có độ mặn và độ nóng cần thiết.</p>
<p>Trước tiên, cần súc sạch khoang miệng bằng nước muối đã pha trong khoảng 30 giây. Nếu cảm thấy miệng chưa thật sạch thì làm thêm một lần nữa rồi mới súc họng. Xúc họng khoảng 3-4 lần nữa với nước muối mới, cho đến khi họng không còn cảm giác vướng víu nữa.</p>
<p>Cứ 3 giờ súc họng một lần. Nếu họng đang viêm cấp, khoảng cách giữa hai lần súc họng có thể gần hơn. Điều quan trọng nhất là phải nhớ súc họng trước và sau khi ngủ. Với người hay đi tiểu đêm, cần phải súc họng cả trong những lần thức giấc này.</p>
<p>Kết quả của việc súc họng nước muối sẽ được thấy rõ sau khoảng vài ngày, đặc biệt đối với những bệnh nhân đang ở đợt cấp. Việc điều trị kháng sinh phối hợp là điều không cần thiết đối với viêm họng mãn. Nhưng nếu đang có đợt cấp thì kháng sinh sẽ là cần thiết.</p>
<p>Theo Suckhoedoisong</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://suckhoe.nhadatso.com/tim-hieu-ve-benh-viem-hong-man-tinh-va-cac-trieu-chung.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tìm hiểu về những loại dị hình vách ngăn mũi</title>
		<link>https://suckhoe.nhadatso.com/tim-hieu-ve-nhung-loai-di-hinh-vach-ngan-mui.html</link>
		<comments>https://suckhoe.nhadatso.com/tim-hieu-ve-nhung-loai-di-hinh-vach-ngan-mui.html#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 26 May 2015 02:31:28 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Tai - Mũi - Họng]]></category>
		<category><![CDATA[bệnh hay gặp]]></category>
		<category><![CDATA[bệnh thường gặp]]></category>
		<category><![CDATA[các bệnh hay gặp]]></category>
		<category><![CDATA[các bệnh thường gặp]]></category>
		<category><![CDATA[cách loại dị hình vách ngăn]]></category>
		<category><![CDATA[chảy máu mũi]]></category>
		<category><![CDATA[dị hình vách ngăn mũi]]></category>
		<category><![CDATA[một số bệnh hay gặp]]></category>
		<category><![CDATA[một số bệnh thường gặp]]></category>
		<category><![CDATA[những bệnh hay gặp]]></category>
		<category><![CDATA[những bệnh thường gặp]]></category>
		<category><![CDATA[tắc mũi]]></category>
		<category><![CDATA[vách ngăn mũi]]></category>
		<category><![CDATA[viêm xoang]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suckhoe.nhadatso.com/?p=414</guid>
		<description><![CDATA[Dị hình vách ngăn là một nguyên nhân rất quan trọng gây ngạt tắc mũi. Nguyên nhân chủ yếu là do chấn thương hoắc do rối loạn trong quá trình phát triển. Chấn thương với lực đánh lệch về một bên mũi thường gây lệch vị trí của sụn hoặc của xương vách ngăn mũi]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Dị hình vách ngăn là một nguyên nhân rất quan trọng gây ngạt tắc mũi.</strong></p>
<p><em>Nguyên nhân chủ yếu là do chấn thương hoắc do rối loạn trong quá trình phát triển.</em></p>
<p>Chấn thương với lực đánh lệch về một bên mũi thường gây lệch vị trí của sụn hoặc của xương vách ngăn mũi về một bên. Còn chấn thương với lực đánh trực diện chính giữa mũi thường gây lún xẹp dầy vách ngăn, kèm theo vỡ sụn và xương của vách ngăn mũi.</p>
<p>Hầu hết chấn thương gây nên dị hình vách ngăn mũi thường sảy ra khi còn nhỏ trong quá trình chơi đùa, nhưng thường là bị bỏ qua và rất khó để hỏi được tiền sử của bệnh.</p>
<p>Rối loạn quá trình phát triển: Vách ngăn mũi được hình thành do quá trình phát triển của mỏm vách ngăn phát triển xuống dưới để gặp hai mảnh phát triển lên phía trên của khẩu cái để gặp nhau tại đường giữa. Trong quá trình hình thành vách ngăn, do sự phát triển quá mức và mất cân bằng của khẩu cái và nền sọ làm cho vách ngăn mũi bị đè đẩy và cong vẹo.</p>
<p>Ngoài ra, dị hình vách ngăn còn có yếu tố chủng tộc và gia đình.</p>
<p><img class="aligncenter size-full " title="Các loại dị hình vách ngăn mũi" src="/images/post/2015/05/26/02//17.png" alt="17 Các loại dị hình vách ngăn mũi" width="480" height="462" /></p>
<p><strong><em>Các loại dị hình vách ngăn gồm:</em></strong></p>
<p>–          Dị hình phần trước vách ngăn: Một phần sụn phía trước của vách ngăn có thể bị cong vẹo không nằm đúng vị trí chính giữa. Việc chẩn đoán có thể thấy rõ khi bệnh nhân ngửa đầu ra phía sau.</p>
<p>–          Biến dạng vách ngăn hình chữ C: Vách ngăn mũi cong vẹo về hẳn một bên và hố mũi bên bị vẹo thường rộng hơn và thường bị quá phát cuốn.</p>
<p>–          Dị hình vách ngăn hình chữ S: Vách ngăn có thể cong vẹo hình chữ S và đây thường là nguyên nhân gây  ngạt mũi cả hai bên.</p>
<p>–          Gai Hoặc mào vách ngăn: gai hoặc mào vách ngăn thường thấy ở phần tiếp giáp giữa phần sụ và phần xương của vách ngăn. Gai hoặc mào vách ngăn có thể chạm vào thành bên của mũi và gây nên đau đầu giữ dội, nó có thể gây chay máu mũi tái phát đi tái phát lại do mạch máu mũi dị căng kéo trên bề mặt của phần dị hình vách ngăn đó.</p>
<p>–          Dầy vách ngăn: có thể do tiền sử bị tụ máu vách ngăn hoặc vách ngăn bị chấn thương vỡ thành nhiều mảnh bị xơ hóa dày lên.</p>
<p><strong><em>Các biểu hiện lâm sàng thường gặp:</em></strong></p>
<p>–          Ngạt tắc mũi: mức độ ngạt phụ thuộc vào loại dị hình vách ngăn. Ngạt có thể một bên hoặc hai bên. Dị hình phần cao thường gây ngạt hơn dị hình phần thấp.</p>
<p>–          Đau đầu: Dị hình vách ngăn nhất là gai vách ngăn hoặc mào vách ngăn chạm với thành bên của mũi gây đau đầu ngày càng tiến triển.</p>
<p>–          Viêm xoang: Dị hình vách ngăn gây tắc lỗ dẫn lưu xoang làm giảm thông khí các xoang và đó là nguyên nhân quan trọng gấy ứ dịch ở trong xoang và gây nhiễm trùng xoang.</p>
<p>–          Chảy máu mũi: Phần niêm mạc mũi tiếp xúc với không khí thở vào mũi bị khô (do thiếu khả ăng làm ẩm) nên dễ gây chảy máu. Hơn nữa chảy máu mũi cũng có thể do mạch máu phủ trên phần gai và phần mào vách ngăn bị căng kéo nên dễ chảy máu.</p>
<p>–          Dị hình vách ngăn có thể gây nhiễm  trùng tai giữa.</p>
<p>Về điều trị: Hầu hết bệnh nhân thường bị dị hình vách ngăn mũi với mức độ nhẹ không có biểu hiện triệu chứng khó chị gì và với những trường hợp này thì không cần điều trị.</p>
<p>Điều trị chỉ cần thiết khi dị hình vách ngăn mũi gây ngạt mũi nghiêm trọng và có các triệu chứng trên.</p>
<p>Điều trị dị hình vách ngăn mũi chủ yếu là bằng phẫu thuật. Thường là phẫu thuật nội soi để lấy bỏ phần sụn và phần xương bị cong vẹo. Phẫu thuật không để lại sẹo và hậu phẫu rất nhẹ nhàng.</p>
<p>Việc chỉnh hình vách ngăn thường được chỉ định khi bệnh nhân trên 17 tuổi. Lúc này phần sụn và xương của bệnh nhân đã phát triển ổn định. Tuy nhiên Nếu trẻ bị ngạt mũi quá nặng nề thì phẫu thuật là cần thiết để bệnh nhân thở được tốt hơn.</p>
<p>Theo 24h</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://suckhoe.nhadatso.com/tim-hieu-ve-nhung-loai-di-hinh-vach-ngan-mui.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tìm hiểu về bệnh nấm miệng ở trẻ em</title>
		<link>https://suckhoe.nhadatso.com/tim-hieu-ve-benh-nam-mieng-o-tre-em.html</link>
		<comments>https://suckhoe.nhadatso.com/tim-hieu-ve-benh-nam-mieng-o-tre-em.html#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 26 May 2015 02:31:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Tai - Mũi - Họng]]></category>
		<category><![CDATA[bệnh hay gặp]]></category>
		<category><![CDATA[bệnh thường gặp]]></category>
		<category><![CDATA[các bệnh hay gặp]]></category>
		<category><![CDATA[các bệnh thường gặp]]></category>
		<category><![CDATA[khó nuốt]]></category>
		<category><![CDATA[một số bệnh hay gặp]]></category>
		<category><![CDATA[một số bệnh thường gặp]]></category>
		<category><![CDATA[nấm Candida]]></category>
		<category><![CDATA[nấm candida ở miệng]]></category>
		<category><![CDATA[Nấm miệng Candida]]></category>
		<category><![CDATA[nấm miệng ở trẻ]]></category>
		<category><![CDATA[những bệnh hay gặp]]></category>
		<category><![CDATA[những bệnh thường gặp]]></category>
		<category><![CDATA[trẻ bị nấm miệng]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suckhoe.nhadatso.com/?p=411</guid>
		<description><![CDATA[Nấm miệng Candida là nguyên nhân thường gặp của trẻ đến khám tại các phòng khám Nhi, cũng như là lý do các bà mẹ đưa bé đến mua thuốc tại các hiệu thuốc tây. Bệnh có thể được phát hiện tình cờ qua thăm khám, hay do  những triệu chứng khó chịu của bé]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Nấm miệng Candida là nguyên nhân thường gặp của trẻ đến khám tại các phòng khám Nhi, cũng như là lý do các bà mẹ đưa bé đến mua thuốc tại các hiệu thuốc tây. Bệnh có thể được phát hiện tình cờ qua thăm khám, hay do  những triệu chứng khó chịu của bé mà bà mẹ mang bé đến khám.</strong></p>
<p>Mặc dù chẩn đoán và điều trị không khó, tuy nhiên vẫn còn những trường hợp bị bỏ sót có thể gây diễn tiến bệnh nặng hơn, hay không phải là nấm miệng nhưng một số bà mẹ vẫn tự ý dùng thuốc rơ miệng kháng nấm không cần thiết trong thời gian dài. Bài này chia sẻ kiến thức về nấm miệng candida ở trẻ em với các bà mẹ, bạn đọc  để giúp tránh bỏ sót bệnh nấm miệng candida, cũng như tránh lạm dụng thuốc rơ miệng trong các tình trạng không cần thiết.</p>
<p><strong>Nấm candida có những đặc điểm gì?</strong></p>
<p>– Bình thường nấm candida thường trú trên cơ thể và không xâm lấn gây bệnh.</p>
<p>– Có 40 – 60%  dân số là người lành mang Candida trên cơ thể.</p>
<p>– Candida bình thường tồn tại ở da, hệ tiêu hóa, cơ quan sinh dục nữ… và có nhiều chủng khác nhau, trong đó chiếm tỉ lệ cao nhất là chủng candida albicans 70%.</p>
<p>– Trẻ  thường nhiễm candida trong lúc sinh khi mẹ bị nấm candida âm đạo lúc mang thai.</p>
<p>– Miệng trẻ sơ sinh có pH thấp thuận lợi cho nấm phát triển.</p>
<p>– Nấm candida có 0,5 – 20% số nhũ nhi khỏe mạnh và 50% trẻ nhiễm HIV-AIDS.</p>
<p><strong>Yếu tố thuận lợi nào cho nấm candida ở miệng phát triển gây bệnh?</strong></p>
<p>– Hệ miễn dịch của trẻ chưa trưởng thành.</p>
<p>– Vệ sinh răng miệng kém, đặc biệt ở các bé đang điều trị chỉnh hình nha có mang các dụng cụ chỉnh nha gây khó khăn cho vệ sinh răng miệng.</p>
<p>– Các bệnh gây suy giảm hệ miễn dịch:  HIV – AIDS, ung thư.</p>
<p>– Dùng thuốc corticoid – kháng sinh kéo dài – thuốc ức chế miễn dịch – hóa trị liệu ung thư.</p>
<p>– Suy dinh dưỡng.</p>
<p>– Chấn thương tại chỗ.</p>
<p>– Đái tháo đường.</p>
<p>– Giảm chức năng tuyến nước bọt.</p>
<p><img class="aligncenter size-full " title="Nấm miệng ở trẻ em" src="/images/post/2015/05/26/02//1201.jpg" alt="1201 Nấm miệng ở trẻ em" width="580" height="327" /></p>
<p><strong>Nấm candida ở miệng gây ra những triệu chứng gì ở trẻ em?</strong></p>
<p>– Không triệu chứng, có thể do phát hiện tình cờ trong khi thăm khám một bệnh khác hay do tình cờ thấy những mảng trắng trên niêm mạc má hay lưỡi.</p>
<p>– Trẻ biếng ăn, hay có thể thay đổi vị giác ăn không cảm thấy ngon miệng.</p>
<p>– Đau rát họng, kích thích.</p>
<p>– Nôn ói.</p>
<p>– Nếu nặng: gây khó nuốt (nếu nấm lan xuống thực quản) hay khàn giọng (nếu nấm lan xuống thanh quản).</p>
<p><strong>Khám miệng bé bị nấm miệng candida sẽ thấy những hình ảnh gì?</strong></p>
<p>– Các mảng trắng như sữa, hay kem, phủ trên nền hồng ban – dính chặt vào niêm mạc lưỡi, má… khó bóc tách và khi cố bóc tách có thể gây chảy máu.</p>
<p>Đa số biểu hiện dưới dạng giả mạc trắng, một số biểu hiện với dạng bạch sản, tăng sản lưỡi, hay dạng viêm lưỡi có dạng hình thoi ở giữa lưỡi. Với trẻ hay dùng thuốc corticoid hít, hay xông trong điều trị  dự phòng suyễn mà không súc miệng sau xịt, cũng có thể bị nấm miệng candida dưới dạng hồng ban thường thấy ở vùng vòm họng.</p>
<p><strong>Chẩn đoán dựa vào gì? Có cần thiết phải làm xét nghiệm không?</strong></p>
<p>– Chẩn đoán chủ yếu dựa khám lâm sàng.</p>
<p>– Xét nghiệm hiếm cần thiết và chỉ thực hiện trong trường hợp khó chẩn đoán, kém đáp ứng điều trị… sẽ thấy các tế bào hạt men nẩy mầm, sợi tơ nấm giả khi nhuộm Gram, soi tưoi, hay sinh thiết và có thể định danh chủng nấm candida khi quệt cấy bệnh phẩm.</p>
<p><strong>Các tình trạng hay bệnh lý nào có thể bị chẩn đoán nhầm là bị nấm miệng?</strong></p>
<p>Lưỡi bản đồ: đây là tình trạng mà bà mẹ hay thường bị nhầm lẫn với nấm miệng candida nhất, và hay tự ý mua thuốc kháng nấm rơ miệng cho trẻ. Tình trạng rơ miệng không đúng này không những không cần thiết, mà đôi khi làm tăng thêm tình trạng khó chịu, tổn thương lưỡi và thậm chí biếng ăn của bé vì làm tổn thương các nụ vị giác trên lưỡi do rơ lưỡi không cần thiết và không đúng. Điều cần lưu ý là lưỡi bản đồ không phải là tình trạng nhiễm nấm candida miệng,  với mảng có bờ giới hạn rõ trên lưỡi, và đôi  khi gây loét lưỡi.</p>
<p>Dính sữa hay thức ăn: các mảng trắng dễ dàng làm sạch khi rơ miệng bằng gạc  sạch. Dính sữa và thức ăn thường gặp tuổi ăn dặm và đặc biệt ở trẻ bú sữa công thức.</p>
<p>Loét miệng dạng aptơ: có thể kèm theo sốt, đau họng và khó nuốt. Điều trị tình trạng này chủ yếu là nâng đỡ, giảm sốt, giảm đau và bổ sung vitamin.</p>
<p>Trẻ bị bệnh tay chân miệng: trẻ có lở, loét miệng và thường kèm hồng ban mụn nước ở lòng bàn chân, bàn tay, gối,  mông và có thể kèm sốt và/ hoặc các biến chứng nặng khác về thần kinh, tim, phổi… Trong điều trị giảm đau họng của bệnh tay chân miệng có thể dùng thuốc ngậm hỗn dịch kháng acid và đôi khi sự dính các thuốc này trên miệng, lưỡi bé có thể bị chẩn đoán nhầm là bị nhiễm candida ở miệng.</p>
<p>Theo Suckhoedoisong</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://suckhoe.nhadatso.com/tim-hieu-ve-benh-nam-mieng-o-tre-em.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tìm hiểu về bệnh lao họng</title>
		<link>https://suckhoe.nhadatso.com/tim-hieu-ve-benh-lao-hong.html</link>
		<comments>https://suckhoe.nhadatso.com/tim-hieu-ve-benh-lao-hong.html#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 26 May 2015 02:31:27 +0000</pubDate>
		<dc:creator><![CDATA[admin]]></dc:creator>
				<category><![CDATA[Tai - Mũi - Họng]]></category>
		<category><![CDATA[bệnh hay gặp]]></category>
		<category><![CDATA[bệnh thường gặp]]></category>
		<category><![CDATA[các bệnh hay gặp]]></category>
		<category><![CDATA[các bệnh thường gặp]]></category>
		<category><![CDATA[khám họng]]></category>
		<category><![CDATA[lao họng]]></category>
		<category><![CDATA[lao họng mạn tính]]></category>
		<category><![CDATA[lao phổi]]></category>
		<category><![CDATA[luput họng]]></category>
		<category><![CDATA[luput mũi]]></category>
		<category><![CDATA[một số bệnh hay gặp]]></category>
		<category><![CDATA[một số bệnh thường gặp]]></category>
		<category><![CDATA[những bệnh hay gặp]]></category>
		<category><![CDATA[những bệnh thường gặp]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://suckhoe.nhadatso.com/?p=412</guid>
		<description><![CDATA[Bệnh này thường phát sau lao phổi hoặc lao da, gồm nhiều thể như lao kê họng, lao loét bã đậu ở họng, luput họng và lao họng nguyên phát. Các thể bệnh có biểu hiện và tiên tượng nặng nhẹ khác nhau. Lao kê họng hiện ít gặp. Thông thường, bệnh nhân đang bị]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Bệnh này thường phát sau lao phổi hoặc lao da, gồm nhiều thể như lao kê họng, lao loét bã đậu ở họng, luput họng và lao họng nguyên phát. Các thể bệnh có biểu hiện và tiên tượng nặng nhẹ khác nhau.</strong></p>
<p align="justify">Lao kê họng hiện ít gặp. Thông thường, bệnh nhân đang bị lao phổi. Vi khuẩn lao lan tràn vào họng bằng đường máu khi lao phổi bước vào thời kỳ trầm trọng hoặc lao kết hợp một số bệnh làm suy giảm miễn dịch (như cúm, sởi, sau đẻ, nhiễm HIV). Bệnh nhân thường ở độ tuổi 20-40, có biểu hiện sốt, nhiệt độ không đều, ra mồ hôi như tắm, khó thở, nuốt đau nhói lên tai, không ăn được và hay bị sặc lên mũi khi uống nước. Người bệnh mệt mỏi nhiều và gầy sút nhanh. Trong họng có những hạt như hạt kê, lổn nhổn, tập trung thành từng mảng xù xì, dầy cộp, khi vỡ ra để lại những vết loét nông rất bẩn.</p>
<p align="justify"><img class="aligncenter size-full " title="Tìm hiểu bệnh lao họng" src="/images/post/2015/05/26/02//1195.jpg" alt="1195 Tìm hiểu bệnh lao họng" width="684" height="513" /></p>
<p align="justify"><strong>Tiên lượng bệnh rất nặng nề</strong></p>
<p align="justify">Lao họng mạn tính thể loét bã đậu luôn thứ phát sau lao phổi. Bệnh nhân là những người đang bị lao phổi đã được xác nhận là lao phổi thể hang. Biểu hiện: ho khạc nhiều, gầy sút, có vi khuẩn lao trong đờm, chụp phổi thấy tổn thương hang lao… Bệnh nhân đau họng, khó nuốt, nói giọng mũi hoặc khàn tiếng, thường sặc lỏng, nước bọt chảy ra rất nhiều, chảy cả ra ngoài miệng mà không nuốt kịp; tình trạng nuốt đau ngày càng tăng.</p>
<p align="justify">Miệng và họng có nhiều nước bọt và đờm, hôi, thối. Niêm mạc họng tái nhợt, bị xước nham nhở với những vết loét nông, đáy xám, rất bẩn. Hạch cổ lổn nhổn thành từng chuỗi, hoặc sưng to thành khối, có khi bị nhuyễn hóa và rò mủ. Bệnh diễn biến chậm, nhưng nếu không điều trị kịp thời, tổn thương sẽ ăn mất lưỡi gà, amiđan, lan xuống sàn miệng, niêm mạc má. Bệnh nhân suy mòn dần và sẽ chết vì lao phổi.</p>
<p align="justify">Luput họng luôn xuất hiện sau luput mặt hoặc luput mũi. Bệnh nhân thường là phụ nữ và không có bệnh tích lao ở phổi. Họ có cảm giác vướng và rát ở họng miệng, thường không thấy đau.</p>
<p align="justify">Khám họng thấy lổn nhổn những hạt lấm tấm màu vàng xám, những vết loét nông bờ không đều hoặc các vết loét sâu, đầu nhỏ như đầu kim. Vết loét ít xuất tiết. Vùng bị loét về sau có sẹo dúm hoặc dính niêm mạc hầu, lưỡi gà bị biến dạng và dính vào thành họng, gây rối loạn một số chức năng của họng, khiến bệnh nhân khó chịu thường xuyên. Tiên lượng bệnh thường không nặng, ít khi tử vong trừ một số ít trường hợp tiến triển thành lao kê họng.</p>
<p align="justify">Lao họng nguyên phát thường biểu hiện không rõ rệt, chỉ giống như viêm amiđan thông thường. Người bệnh xanh xao, ăn uống kém, niêm mạc nhợt nhạt, hạch cổ có tính chất của hạch lao… Để chẩn đoán xác định bệnh, cần dựa vào một số xét nghiệm cận lâm sàng như: tốc độ lắng máu, phản ứng mantoux, sinh thiết nơi tổn thương và hạch cổ có hình ảnh điển hình của lao.</p>
<p align="justify">Lao họng được điều trị theo phác đồ phòng chống lao chung, kết hợp vệ sinh mũi họng thật tốt bằng một số thuốc (như thuốc súc họng kiềm nhẹ để làm thay đổi pH của họng) hoặc bằng tia cực tím, tia lửa điện nguội, đốt cote điện…</p>
<p align="justify">Theo Suckhoedoisong</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://suckhoe.nhadatso.com/tim-hieu-ve-benh-lao-hong.html/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
